
Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam phát biểu tại Hội nghị ứng dụng công nghệ Thông tin vào công tác quản lý thuốc
Thống kê năm 2018, trên địa bàn toàn tỉnh Bắc Kạn có 04 Công ty cổ phần Dược, 63 Nhà thuốc (NT) và 166 quầy thuố(QT).Tổng số Nhà thuốc/quầy thuốc(NT/QT)đang hoạt động trên địa bàn thành phố Bắc Kạn là 55 cơ sở (Chiếm 41,3% so với toàn tỉnh), trong đó có 40 Nhà thuốc và 15 quầy thuốc (Tỷ lệ NT/QT là 72,7%/27,3%). Vấn đề quản lý kiểm soát hoạt động kê đơn và bán thuốc kê đơn tại địa phương còn nhiều hạn chế, khó khăn, thách thức. Xuất phát từ thực tiễn đó, nhằm phục vụ công tác quản lý về lĩnh vực này và để đạt được 04 mục tiêu nêu trên, Sở Y tế đã chọn thành phố Bắc Kạn làm địa điểm thực hiện đề tài: “NGHIÊN CỨU KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VỀ BÁN THUỐC KÊ ĐƠN CỦA NHÂN VIÊN NHÀ THUỐC, QUẦY THUỐC TẠI THÀNH PHỐ BẮC KẠN NĂM 2018”. Nghiên cứu nhằm 02 mục tiêu: (1) Mô tả thực trạng bán thuốc kê đơn tại các nhà thuốc, quầy thuốc trên địa bàn thành phố Bắc Kạn năm 2018. (2) Đánh giá kiến thức, thái độ về bán thuốc kê đơn của nhân viên nhà thuốc, quầy thuốc trên địa bàn thành phố Bắc Kạn.
Đề tài lựa chọn toàn bộ 55 nhà thuốc/quầy thuốc(NT/QT) của thành phố Bắc Kạn để đánh giá kiến thức, thái độ của Chủ NT/QT hoặc Nhân viên trực tiếp bán thuốc hoặc Người phụ trách chuyên môn tại các NT/QT. Qua 8 tháng điều tra nghiên cứu (từ tháng 4/2018-11/2018): Trong số 55 đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) cho thấy: Trình độ đào tạo của đối tượng nghiên cứu chiếm tỷ lệ lần lượt là Dược sỹ ĐH là 32,7%, DS Trung học là 30,9, DS Cao đẳng là 25,5%, DS sau ĐH là 10,9%; Trong đó: Là Chủ Nhà thuốc chiếm 16,4%; Là Nhân viên bán hàng (NVBH) chiếm 34,5%, Là Chủ NT/QT kiêm phụ trách chuyên môn/kiêm NVBH: 25,5%, Là Chủ NT/QT kiêm NVBH: 14,5%; Có 90,9% số đối tượng đã từng tham gia các lớp tập huấn cập nhật về lĩnh vực Dược; Tuy nhiên vẫn còn 9,1% Chưa tham gia lần nào (nguyên nhân do mới hành nghề); Về cơ sở vật chất liên quan đến việc ứng dụng công nghệ thông tin đã có 78,2% NT/QT đã trang bị máy vi tính, 21,8% chưa có máy vi tính để cài đặt phần mềm quản lý NT/QT;
Theo quy định trong năm 2018, tất cả các Nhà thuốc (NT) trên địa bàn tỉnh phải cài đặt và ứng dụng phần mềm vào quản lý, nhưng qua điều tra: Số NT đã cài đặt phần mềm liên thông Quản lý chiếm 57,5%, Còn 42,5% chưa cài đặt. Trong số đã cài đặt: 91,3 % sử dụng phần mềm của đơn vị VNPT, 8,7 % sử dụng phần mềm của Viettel, 8,7% sử dụng cả hai phần mềm này.
Đánh giá thực trạng về bán thuốc kê đơn tại tại các NT/QT trên địa bàn thành phố Bắc Kạn, cho thấy: Khách hàng(KH) thường mua thuốc về điều trị cho Nhóm bệnh phổ biến nhất là: Bệnh đường hô hấp (100%); Bệnh mạn tính (Tim mạch, Tăng HA, Tiểu đường…) là 90,1%, Thấp nhất là các nhóm bệnh đường da liễu chiếm 21,8%... Thống kê cũng cho thấy: Nhóm thuốc phổ biến KH thường mua về sử dụng là Thuốc kháng sinh và các bệnh mạn tính: Tim mạch, Huyết áp, Hô hấp, Nội tiết…
Qua phỏng vấn trực tiếp ĐTNC và sổ sách ghi chép tại NT/QT: >70% KH đến mua thuốc là Không có đơn; 49,1% số NT/QT cho rằng mỗi tháng có từ 100-300 KH mua Kháng sinh (KS) về tự sử dụng, 21,8% cho rằng mỗi tháng có từ 300-<500 về sử dụng; KH mua thuốc KS về điều trị trung bình là 5-7 ngày/đợt chiếm 69,1%; 1-2 ngày/đợt chiếm 18,2%;1-2 ngày/đợt là 18,2%; ĐTNC cho rằng việc bán thuốc không có đơn là Rất phổ biến (chiếm 87,3%); Bình thường 12,7%; 100% ĐTNC đã từng bán thuốc khi KH không có đơn (Chỉ kể bệnh); 100% số ĐTNC đã từng Tư vấn cho khách hàng mua thuốc nên đi khám (Khi không có đơn); 100% số ĐTNC Chưa từng bị Cơ quan chức năng đến kiểm tra nhắc nhở và Chưa từng bị xử phạt về bán thuốc không có đơn.
Đánh giá kiến thức, thái độ liên quan đến những quy định của pháp luật về bán thuốc kê đơn của ĐTNC tại các cơ sở bán lẻ trên địa bàn thành phố Bắc Kạn, cho thấy:
Kiến thức: Chỉ có 21,8% số ĐTNC nêu đúng Nội dung văn bản Quy định về kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú; 78,2% không nêu đúng; 16,4 % số ĐTNC nêu đúng nội dung Văn bản quy định Danh mục thuốc không kê đơn; 83,6% không nêu được; Số ĐTNC có kiến thức về phân biệt thuốc kê đơn và không kê đơn: Dựa Ký hiệu “Rx” trên nhãn thuốc chiếm 87,3%; Dựa vào danh mục thuốc không kê đơn chiếm 7,3%; Không biết phân biệt vẫn chiếm 5,4%; 90,9% số ĐTNC trả lời đúng về giá trị mua thuốc của một đơn thuốc, 9,1% không nêu đúng; 81,8% số ĐTNC nêu đúng về quy định lưu thông tin của đơn thuốc tại cửa hàng mình; Không đúng chiếm 14,6%; Không biết chiếm 3,6%; 90,9% số ĐTNC cho rằng Khi sử dụng Kháng sinh không có đơn, không đủ, không đúng liều sẽ Gây hiện tượng kháng kháng sinh và Ảnh hưởng đến sức khỏe; 81,8% cho rằng Kéo dài thời gian điều tri; 41,8% cho rằng Tăng chi phí điều trị; 29,1% cho rằng Gia tăng nguy cơ tử vong; 100% số ĐTNC Cho rằng hành vi bán thuốc trong danh mục bắt buộc phải kê đơn mà KH không có đơn sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính; Về mức xử phạt vi phạm hành chính khi bán thuốc không có đơn: Nêu đúng chỉ chiếm 21,8%; Không đúng chiếm 63,6%; Không biết chiếm 14,6%.
Thái độ: 100% số ĐTNC cho rằng bán thuốc không có đơn của Thầy thuốc là vi phạm các quy định của pháp luật và nguy hiểm cho người dùng; 92,7% Cho rằng dùng Kháng sinh không theo đơn, không đúng liều sẽ Rất nguy hiểm cho người sử dụng; Vẫn còn 7,3% cho rằng Không nguy hiểm; Trong các lý do vẫn bán thuốc khi không có đơn thì 100% cho rằng: Không bán sẽ mất khách (không có doanh thu, lợi nhuận…), Chờ có đơn mới bán thuốc thì Nhà thuốc không tồn tại đươc; Việc kiểm tra xử phạt chưa nghiêm nên chưa thực hiện; Chưa bị nhắc nhở nên vẫn bán; Chưa bị phạt bao giờ nên vẫn bán…;76,4% có thái độ sẽ thực hiện ngay theo quy định; 9,1% Chưa muốn thực hiện ngay; 9,1 % cho rằng sẽ thực hiện nhưng chưa phải lúc này; 5,4% có thái độ là vẫn thực hiện như trước đây; 90,9% cho rằng Rất cần thiết được Tập huấn về các quy định bán thuốc kê đơn.
Tóm lại: Kết quả nghiên cứu rất có ý nghĩa trong giai đoạn hiện nay. Là cơ sở cho việc đánh giá khảo sát đầu vào để thực hiện các nhiệm vụ của Kế hoạch số 1897/SYT-KH ngày 06/09/2018 của Sở Y tế v/v Triển khai ứng dụng công nghệ thông tin kết nối cơ sở cung ứng thuốc nhằm kiểm soát kê đơn và bán thuốc kê đơn, giai đoạn 2018 - 2020 trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn; Mặt khác, đây là nghiên cứu mới tại Bắc Kạn, những dữ liệu, tỷ lệ trong đề tài sẽ là căn cứ để làm tài liệu tham khảo cho các NCKH cùng lĩnh vực trong tương lai.
Qua đó, đề tài đưa ra các khuyến nghị như sau: (1)Tiếp tục tuyên truyền, giám sát, thanh, kiểm tra về hoạt động quản lý trong lĩnh vực Dược; (2)Chỉ đạo việc kết nối các cơ sở cung ứng thuốc. Phối hợp, giám sát các đơn vị cung ứng phần mềm trong việc Cài đặt và sử dụng thành thạo phần mềm quản lý nhà thuốc. (3)Triển khai đào tạo, tập huấn, hướng dẫn cán bộ y tế đặc biệt là người kê đơn thuốc và bán lẻ thuốc về các quy định liên quan tới lĩnh vực Kê đơn thuốc và bán thuốc kê đơn nhằm nâng cao trách nhiệm trong việc thực hiện quy định của pháp luật lĩnh vực Dược. (4).Đồng thời tập trung các giải pháp nhằm nâng cao nhận thức của người dân trong việckhám bệnh kê đơn tại các cơ sở y tế, mua và sử dụng thuốc theo đơn của thầy thuốc theo đúng quy định./.
Tác giả: TTƯT.BsCKII. Tạc Văn Nam
(Phó Giám đốc Sở Y tế Bắc Kạn)