BVĐK tỉnh Bắc Kạn từng bước theo lộ trình thực hiện đề án XXH hoạt động tại bệnh viện.
(Trong ảnh Đ/c Lý Thái Hải -Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh tặng quà cho bệnh viện tỉnh nhân buổi thăm và làm việc với BVĐK Bắc Kạn (01/2017). Ảnh T.V.Nam.
Vài thập niên trở lại đây, trên thế giới đã xuất hiện hai luồng quan điểm cơ bản về định hướng phát triển sự nghiệp y tế. Quan điểm thứ nhất là giải quyết tính Công bằng trong chăm sóc y tế (thể hiện trong Tuyên ngôn Alma Ata với lời kêu gọi “Sức khỏe cho mọi người năm 2000”). Quan điểm thứ hai là giải quyết tính Hiệu quả trong chăm sóc y tế (thể hiện trong chủ trương thu phí theo hướng tính đúng, tính đủ tại các bệnh viện công và phát triển hệ thống y tế tư nhân). Từ đó các quốc gia phải đứng trước hai sự lựa chọn theo hai quan điểm nêu trên: Phát triển hệ thống y tế theo hướng Công bằng hay Hiệu quả? Ở tầm vĩ mô, một số quốc gia đã lựa chọn con đường phát triển theo hướng Hiệu quả và chấp nhận hy sinh tính Công bằng, nhưng một số Quốc gia thì có lựa chọn ngược lại (chấp nhận tính Công bằng, hy sinh tính Hiệu quả). Tuy nhiên quan điểm, đường lối phát triển hệ thống y tế nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam đã đặt ra cả hai mục tiêu đó là: Phát triển sự nghiệp y tế theo hướng Công bằng và Hiệu quả với một cơ chế hợp lý, một hướng đi sáng tạo và đi kèm với những nhóm giải pháp khả thi. Xã hội hóa y tế chính là một trong những nhóm giải pháp tổng thể có thể đạt được cả hai mục tiêu lớn này.
|
Xã hội hóa (XHH) nói chung hay XHH y tế nói riêng là những thuật ngữ được đưa ra với nhiều luồng quan điểm khác nhau, thậm chí trái chiều. Ở góc độ xã hội học, thì “Xã hội hóa là một cụm từ gồm ba hoạt động chính sau đây: Đó là việc chuyển sở hữu tư thành sở hữu xã hội (Sở hữu công, sở hữu nhà nước); Đó là chuyển từ ý thức cá thể thành một ý thức XHCN; Đó là một quá trình chuyển biến từ con người tự nhiên thành con người xã hội”. Dưới góc độ chính sách pháp luật có thể hiểu “XHH y tế là hoạt động có sự tham gia bằng các hoạt động và sự đóng góp theo khả năng của mọi thành phần kinh tế, mọi ngành nghề, cá nhân và tổ chức xã hội vào công tác CSSKND nhằm đạt kết quả cao nhất, công bằng và hiệu quả”. |
Đứng trước sự thay đổi về cơ chế, trong điều kiện nền kinh tế phát triển với các giới hạn nhất định về nguồn lực, ngành y tế cũng không nằm ngoài quy luật đó, khi khu vực y tế Nhà nước đang trở nên ngày càng bất cập trong việc đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân cả về số lượng và chất lượng, kèm theo sự phát triển nhanh chóng về khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực y học, xu thế hội nhập quốc tế, cùng với cơ cấu, mô hình bệnh tật thay đổi…Dẫn đến nhu cầu KCB, chăm sóc sức khỏe nhân dân ngày càng tăng cao. Những yếu tố trên đòi hỏi ngành y tế cần phát huy mọi tiềm năng trí tuệ, vật chất trong nhân dân bằng cách huy động toàn xã hội chăm lo cho sự nghiệp y tế theo hướng xã hội hóa hoạt động y tế.
Quan điểm, chủ trương về xã hội hóa y tế đã được đề cập cách đây 24 năm từ Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành TW Đảng khóa VII, ban hành ngày 14/01/1993 (lần đầu tiên có một Nghị quyết TW đề cập tới vấn đề Xã hội hóa công tác y tế). Qua thời gian thực hiện nghị quyết này từ năm 1993 đến những năm 2000-2005 cho thấy: Khu vực y tế nhà nước nói chung chưa có nhiều chuyển biến, khu vực y tế tư nhân vẫn còn những hạn chế, sự vào cuộc của các tổ chức chính trị xã hội, ban ngành, đoàn thể hay các hộ gia đình trong XHH y tế vẫn còn mờ nhạt.
Đứng trước thực trạng đó Chính phủ và các Bộ, ngành liên quan đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để góp phần đạt mục tiêu nêu trên, Cụ thể như: Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30 tháng 5 năm 2008 của Chính phủ và Thông tư số 135/2008/TT-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2008 của Bộ Tài chính về hướng dẫn chính sách khuyến khích xã hội hoá đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hoá, thể thao, môi trường theo Nghị định số 69/2008/NĐ-CP; Nghị định số 85/2012/NĐ-CP ngày 15 tháng 10 năm 2012 của Chính phủ về cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp y tế công lập và giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập; Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2005 của Chính phủ về đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá và thể dục thể thao. Nghị quyết số 93/NQ-CP ngày 15 tháng 12 năm 2014 của Chính phủ và một số cơ chế, chính sách phát triển y tế;…
Các văn bản quy phạm pháp luật trên đã thể chế hóa hoạt động xã hội hóa y tế và hướng dẫn cụ thể các nội dung xã hội hóa với mục đích huy động mọi nguồn lực của toàn xã hội trong sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân, tạo điều kiện để mọi người dân, nhất là đối tượng chính sách, người nghèo, người có thẻ BHYT được thụ hưởng các dịch vụ kỹ thuật cao ngay tại cơ sở, giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước, tăng tỷ lệ bao phủ BHYT toàn dân…dần dần tiến tới đảm bảo sự công bằng trong CSSK nhân dân. Góp phần làm thay đổi diện mạo ngành y tế, giúp người bệnh được thụ hưởng các dịch vụ kỹ thuật cao…
Chủ trương xã hội hóa sẽ giúp các bệnh viện có được nhiều trang thiết bị hiện đại, phát triển kỹ thuật mới, cán bộ y tế được nâng cao trình độ chuyên môn. Với việc đưa những trang thiết bị hiện đại về lắp đặt cũng góp phần phát triển kỹ thuật, nâng cao hiệu quả chẩn đoán và điều trị, phát hiện sớm, chính xác bệnh tật, giảm tỷ lệ tử vong, đồng thời qua thời gian đã góp phần từng bước đáp ứng nhu cầu KCB ngày càng đa dạng của các tầng lớp nhân dân, nhất là những người có khả năng chi trả, góp phần hạn chế người dân phải chuyển tuyến trên điều trị hoặc đi nước ngoài KCB. Người dân, trong đó có cả người nghèo, cận nghèo, trẻ em, đối tượng chính sách xã hội cũng được hưởng lợi khi được sử dụng các dịch vụ này, kể cả các kỹ thuật cao do BHYT thanh toán hoặc chưa có hướng dẫn thanh toán, vì ở nhiều bệnh viện, các trang thiết bị XHH được dùng chung cho toàn bệnh viện. Ngoài ra, Bệnh viện còn có thêm nguồn thu để bù đắp các chi phí, tái đầu tư mua sắm, sửa chữa trang thiết bị, xây mới cơ sở vật chất và tăng thêm nguồn thu nhập cho nhân viên…Từ đó sẽ thu hút nhân tài, tạo động lực làm việc cho các thầy thuốc hăng say nghiên cứu khoa học, áp dụng sáng kiến cải tiến kỹ thuật trong việc khám, chẩn đoán, điều trị người bệnh mà không màng đến việc “làm thêm ngoài giờ” ảnh hưởng đến chất lượng chuyên môn trong bệnh viện.
Cơ sở thực hiện XHH Y tế được các văn bản pháp quy quy định theo nguyên tắc tự bảo đảm kinh phí, được liên doanh, liên kết với các tổ chức trong và ngoài nước nhằm huy động vốn, nhân lực và công nghệ, nâng cao chất lượng dịch vụ CSSK…Tuy nhiên, làm thế nào để chủ trương xã hội hóa y tế được vận dụng linh hoạt?. Ngoài việc Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách quản lý trong công tác xã hội hóa y tế, đòi hỏi toàn thể lãnh đạo cũng như các cán bộ, viên chức trong ngành y tế cần nâng cao nhận thức, trách nhiệm về xã hội hóa, tiến hành xây dựng đề án phù hợp với điều kiện của từng đơn vị, phù hợp với chủ trương, chính sách và định hướng quản lý của Nhà nước trên yêu cầu thực tế phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương, thực hiện đúng thông điệp do Bộ Y tế đề ra “Y tế Việt Nam: Đổi mới, hướng tới sự hài lòng của nhân dân”; Đồng thời và trên hết cần nêu cao tinh thần trách nhiệm, cùng quan tâm vào cuộc của lãnh đạo chính quyền các cấp, các tổ chức chính trị- xã hội và của mọi người dân trong lĩnh vực XXH y tế nhằm hướng tới mục tiêu: “Phát triển hệ thống y tế Việt Nam theo hướng Công bằng và Hiệu quả”./.
Tác giả: TTƯT.BsCK2.Tạc Văn Nam
Phó Giám đốc Sở Y tế Bắc Kạn
