Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá đã thể chế hóa quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về PCTHTL, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho công tác PCTHTL trong giai đoạn hiện nay, đáp ứng yêu cầu nội luật hóa Công ước khung về kiểm soát thuốc lá mà Việt Nam là thành viên, góp phần hạn chế bệnh tật, nâng cao sức khỏe cộng đồng, thực hiện thành công sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Đặc biệt, với quy định về việc thành lập Quỹ Phòng, chống tác hại của thuốc lá là nguồn kinh phí xã hội hóa từ khoản đóng góp bắt buộc của cơ sở sản xuất, nhập khẩu thuốc lá để sử dụng chủ yếu cho hoạt động thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống tác hại của thuốc lá trong toàn quốc là điều kiện thuận lợi để tăng cường nhận thức của người dân về tác hại của thuốc lá. Nội dung này được quy định cụ thể tại Điểm a Khoản 2 Điều 29 về mục đích và nhiệm vụ của Quỹ: "Quỹ có nhiệm vụ hỗ trợ hoạt động truyền thông về tác hại của thuốc lá và phòng, chống tác hại của thuốc lá phù hợp với từng nhóm đối tượng".
Địa điểm cấm hút thuốc lá được quy định trong Luật bao gồm địa điểm cấm hút thuốc lá hoàn toàn (Điều 11) và địa điểm cấm hút thuốc lá trong nhà nhưng được phép có nơi dành riêng cho người hút thuốc lá (Điều 12). Cơ sở khoa học của điều luật này xuất phát từ tác hại của hút thuốc lá thụ động đến sức khỏe của người không hút thuốc lá cũng như hiệu quả của quy định cấm hút thuốc lá tại địa điểm công cộng đến việc giảm tỷ lệ người hút thuốc lá, nhằm bảo vệ sức khỏe của những người không hút thuốc lá khỏi những ảnh hưởng có hại và nguy cơ phơi nhiễm với khói thuốc lá.
Điều 11 của Luật quy định các địa điểm công cộng cấm hút thuốc lá hoàn toàn bao gồm:
Các địa điểm công cộng cấm hút thuốc lá hoàn toàn cả trong nhà và trong phạm vi khuôn viên (cơ sở y tế;cơ sở giáo dục, trừ các cơ sở quy định tại điểm b khoản 2 Điều này; cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng, vui chơi, giải trí dành riêng cho trẻ em; cơ sở hoặc khu vực có nguy cơ cháy, nổ cao);
Các địa điểm công cộng cấm hút thuốc lá hoàn toàn trong nhà (nơi làm việc; trường cao đẳng, đại học, học viện; địa điểm công cộng, trừ các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này và khoản 1 Điều 12 của Luật này) và cấm hút thuốc lá hoàn toàn trên một số phương tiện giao thông công cộng là ô tô, tàu bay.
Điều 12 của Luật quy định các địa điểm công cộng cấm hút thuốc lá nhưng được phép có nơi dành riêng cho người hút thuốc lá bao gồm: khu vực cách ly của sân bay; quán bar, karaoke, vũ trường, khách sạn và cơ sở lưu trú du lịch; trên các phương tiện giao thông công cộng là tàu thủy, tàu hỏa.
Khu vực dành riêng cho người hút thuốc lá tại các địa điểm này phải bảo đảm các điều kiện về không gian, thông khí, vệ sinh môi trường, có dụng cụ chứa các mẩu, tàn thuốc lá, có biển báo tại các vị trí phù hợp, dễ quan sát và phòng, chống cháy nổ để bảo đảm an toàn và hạn chế tác hại của thuốc lá.
Như vậy, Luật quy định địa điểm cấm hút thuốc lá bao gồm địa điểm cấm hút thuốc lá hoàn toàn và địa điểm cấm hút thuốc lá trong nhà nhưng được phép có nơi dành riêng cho người hút thuốc lá xuất phát từ thực tiễn xã hội và thói quen hút thuốc lá của người dân Việt Nam, cùng với cơ sở khoa học và cơ sở pháp lý nhằm đảm bảo tính khả khi của điều luật, hạn chế tình trạng phơi nhiễm với khói thuốc lá và giúp giảm dần tỷ lệ sử dụng thuốc lá./.
Tác giả: BsCK2. Tạc Văn Nam