Hai đề tài đó là “Nâng cao kỹ năng thực hành dinh dưỡng của bà mẹ và cải thiện tình trạng dinh dưỡng trẻ em từ 25 - 60 tháng tuổi tại thị xã Bắc Kạn giai đoạn 2009 - 2010” do Trung tâm Y tế thị xã Bắc Kạn là cơ quan chủ trì thực hiện và đề tài “Nghiên cứu thực trạng và áp dụng các biện pháp can thiệp phòng chống bệnh răng miệng ở học sinh tiểu học tỉnh Bắc Kạn” do Trung tâm y tế dự phòng tỉnh chủ trì thực hiện từ năm 2009-2010.
Mục tiêu của đề tài “Nâng cao kỹ năng thực hành dinh dưỡng của bà mẹ và cải thiện tình trạng dinh dưỡng trẻ em từ 25 - 60 tháng tuổi tại thị xã Bắc Kạn giai đoạn 2009 - 2010” là: Đánh giá thực trạng kiến thức thực hành về nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ của bà mẹ, giảm tình trạng suy dinh dưỡng trẻ 25 – 60 tháng tuổi tại địa bàn thị xã Bắc Kạn. Đề xuất các giải pháp có hiệu quả phù hợp với địa phương và nhân rộng trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn nhằm cải thiện và tăng cường chất lượng nuôi dưỡng chăm sóc, cải thiện bền vững tình trạng dinh dưỡng, sức khoẻ trẻ em từ 25-60 tháng tuổi trên địa bàn các năm tiếp theo.
Qua 2 năm thực hiện, đề tài đã hoàn thành nội dung và mục tiêu đề ra. Nhờ có sự tác động, can thiệp mà tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em đã giảm rõ rệt và nhận thức về Phòng chống Suy dinh dưỡng trẻ em của bà mẹ có con từ 25-60 tháng tuổi sau can thiệp đã nâng lên so với trước can thiệp. Cụ thể kiến thức cũng như nhận thức của bà mẹ đã tăng từ 10 đến 40%; tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em sau can thiệp cũng đã giảm từ 17,3% xuống còn 15,7%. Đề tài cũng đã đề xuất được các giải pháp để từng bước giảm tỷ lệ trẻ em bị suy dinh dưỡng trên địa bàn tỉnh góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn lần thứ X là đến năm 2015 tỷ lệ suy dinh dưỡng trên địa bàn giảm xuống dưới 20%. Kết quả bỏ phiếu đề tài được đánh giá, xếp loại: Khá.
Đề tài “Nghiên cứu thực trạng và áp dụng các biện pháp can thiệp phòng chống bệnh răng miệng ở học sinh tiểu học tỉnh Bắc Kạn” được Hội đồng khoa học đánh giá xuất sắc. Đề tại đã đạt được 2 mục tiêu đề ra là: Xác định tỷ lệ mắc và nhu cầu điều trị bệnh răng miệng của học sinh các trường tiểu học trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn; Đồng thời xây dựng mô hình điểm áp dụng các biện pháp can thiệp làm giảm tỷ lệ mắc các bệnh răng miệng. Địa điểm thực hiện tại 5 trường tiểu học là trường Tiểu học Nguyễn Thị Minh Khai, thị xã Bắc Kạn; trường Tiểu học xã Xuân La, huyện Pác Nặm; trường Tiểu học xã Thuần Mang, huyện Ngân Sơn; trường Tiểu học xã Lương Thượng, huyện Na Rì và trường Tiểu học thị trấn Bằng Lũng, huyện Chợ Đồn.
Sau hai năm triển khai thực hiện, bằng các phương pháp nghiên cứu như mô tả, điều tra cắt ngang, kết hợp với can thiệp có đối chứng so sánh trước sau, đề tài đã đánh giá được tỷ lệ sâu răng của học sinh tiểu học trên địa bàn trước can thiệp cho thấy: Tỷ lệ trẻ em từ 7-11 tuổi trong nhóm nghiên cứu bị sâu răng sữa là 83,7%, sâu răng vĩnh viễn là 42,4%, viêm lợi là 64,9%, cặn bám răng là 39,2%, tình trạng có bệnh lý ở miệng chiếm tỷ lệ 4,5%... Sau can thiệp bằng xây dựng mô hình điểm phòng chống bệnh răng miệng tại Trường Tiểu học Nguyễn Thị Minh Khai – thị xã Bắc Kan thì tỷ lệ sâu răng sữa tăng ít hơn 9 lần so với nhóm đối chứng (tại trường Tiểu học Bằng Lũng – Chợ đồn), tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn tăng ít hơn 6,5 lần… Điều tra về Kiến thức, thái độ, thực hành của học sinh và phụ huynh học sinh về nguy cơ về bệnh sâu răng trước can thiệp là 25,2% và 55,9% trả lời đúng, sau can thiệp tỷ lệ này được nâng lên là 48 % và 84,3%. Mô hình can thiệp đã áp dụng đầy đủ 4 biện pháp can thiệp theo 4 nội dung của chương trình Nha học đường đó là: Giáo dục Nha khoa; Xúc miệng bằng nước có Fluor tại trường học; Khám răng miệng định kỳ và Trám bít hố rãnh. Mô hình này nếu được nhân rộng sẽ đẩy mạnh công tác chăm sóc sức khỏe răng miệng cho trẻ em, tạo cho trẻ có ý thức, kỹ năng thực hành vệ sinh răng tạo cho trẻ có hàm răng chắc khỏe, khuôn mặt rạng ngời.
Các kết quả nghiên cứu của đề tài là những căn cứ khoa học, phục vụ cho việc lập kế hoạch chăm sóc sức khoẻ phòng chống bệnh răng miệng cho học sinh trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn, đưa ra các khuyến nghị nhằm tăng cường công tác giáo dục nha khoa trong các trường tiểu học, nhất là việc phối hợp giữa ngành giáo dục và ngành y tế trong chương trình Nha học đường./.
Tác giả bài viết: TVN